This is alternative content.

Trang chủ Tin tức
TIN GIÁO DỤC
Công khai chất lượng giáo dục 2016 -2017
Thứ tư, 15 Tháng 11 2017 07:42

Biểu mẫu 09

(Kèm theo Thông tư số 09/2009/TT-BGDĐT ngày 07 tháng 5 năm 2009 của

Bộ Giáo dục và Đào tạo)

             SỞ GD&ĐT KON TUM

 

        TRƯỜNG THPT NGÔ MÂY                  

 

THÔNG B¸O

Công khai thông tin chất lượng giáo dục phổ thông, năm học 2016 - 2017

 

TT

Nội dung

Tổng số

Chia ra theo khối lớp

Lớp 6

Lớp 7

Lớp 8

Lớp 9

Lớp 10

Lớp 11

Lớp 12

I

Số học sinh chia theo hạnh kiểm

692

76

65

70

44

162

164

114

1

Tốt

435

5.2

4.5

5.3

4.8

11.3

15.8

15.9

2

Khá

199

4.9

2.6

3.8

1.0

9.4

6.5

0.6

3

Trung bình

49

0.9

1.2

1.0

0.6

2.2

1.3

0.0

4

Yếu

9

0.0

0.7

0.0

0.0

0.4

0.1

0.0

II

Số học sinh chia theo học lực

692

76

65

70

44

162

164

114

1

Giỏi

42

0.6

0.7

1.0

1.7

0.3

1.0

0.7

2

Khá

243

3.2

3.2

2.7

1.9

7.5

8.5

7.9

3

Trung bình

360

5.8

3.9

5.6

2.7

13.2

13.2

7.7

4

Yếu

41

1.0

0.9

0.7

0.0

2.2

1.0

0.1

5

Kém

5

0.3

0.3

0.0

0.0

0.1

0.0

0.0

III

Tổng hợp kết quả cuối năm

692

76

65

70

44

162

164

114

1

Lên lớp

646

88.2

7.8

9.4

6.4

21.0

22.7

16.5

a

Học sinh giỏi

42

0.6

0.7

1.0

1.7

0.3

1.0

0.7

b

Học sinh tiên tiến

242

3.0

3.2

2.7

1.9

7.5

8.5

7.9

2

Thi lại

42

1.0

0.7

0.9

 

2.2

1.3

0.0

3

Lưu ban

 

45

11.8

1.2

0.7

0.0

2.3

1.0

0.0

4

Chuyển trường đến/đi

(tỷ lệ so với tổng số)

2

 

 

0.14

 

0.14

 

 

5

Bị đuổi học

(tỷ lệ so với tổng số)

 

 

 

 

 

 

 

 

6

Bỏ học (qua kỳ nghỉ hè năm trước và trong năm học)

8

 

 

0.29

 

0.87

 

 

IV

Số học sinh đạt giải các kỳ thi

học sinh giỏi

 

 

 

 

 

 

 

 

1

Cấp tỉnh/thành phố

 

 

 

 

5

 

 

7

2

Quốc gia, khu vực một số nước, quốc tế

 

 

 

 

 

 

 

 

V

Số học sinh dự xét hoặc dự thi tốt nghiệp

158

 

 

 

44

 

 

114

VI

Số học sinh được công nhận tốt nghiệp

 

 

 

 

44

 

 

111

1

Giỏi

 

 

 

 

12

 

 

 

2

Khá

 

 

 

 

 

 

 

 

3

Trung bình

 

 

 

 

 

 

 

 

VII

Số học sinh thi đỗ đại học, cao đẳng công lập

 

 

 

 

 

 

 

 

VIII

Số học sinh thi đỗ đại học, cao đẳng ngoài công lập

 

 

 

 

 

 

 

 

IX

Số học sinh nam/số học sinh nữ

228/404

38/38

37/25

37/33

19/25

65/97

56/108

36/78

X

Số học sinh dân tộc thiểu số

314

24

13

10

2

104

94

67

                                                                                           Kon Tum, ngày 28 tháng 8 năm 2017

                                                                                          Thủ trưởng đơn vị

 

 

                                                                                             Thái Tăng Nghĩa

 
dạy theo pp bàn tay nặn bột
Thứ năm, 09 Tháng 11 2017 23:37

CHUYÊN ĐỀ: "VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT TRONG

DẠY HỌC MÔN HÓA HỌC NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, CHỦ ĐỘNG,

 HỢP TÁC CỦA HỌC SINH"

                                                                                               

Phát huy tích cực, chủ động, hợp tác của học sinh (HS) là một trong những mục tiêu quan trọng của quá trình dạy học ở mọi cấp học, bậc học ở nước ta hiện nay. Dạy và học tích cực là một giải pháp hữu hiệu để phát huy tính tích cực, chủ động, hợp tác của HS, nhằm đạt mục tiêu dạy học.

Tính tích cực của con người biểu hiện trong hoạt động. Tính tích cực của Hs biểu hiện trong những dạng hoạt động khác nhau: học tập, lao động, thể dục thể thao, vui chơi giải trí, hoạt động xã hội, trong đó học tập là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi đi học. Ở mỗi dạng hoạt động nói trên, tính tích cực bộc lộ với những đặc điểm riêng.

Trong hoạt động học, HS là chủ thể nhận thức, muốn học tập có kết quả tốt thì HS phải chủ động học tập. Vậy chủ động học tập là HS chủ động chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng kỹ xảo mới để phát triển chính bản thân mình về nhận thức lí tính cũng như nhân cách. Thông qua các hoạt động chủ động của mình trong quá trình học, học sinh tự lực khám phá điều mình chưa rõ, không phải thụ động tiếp thu kiến thức đã được giáo viên sắp đặt. Học sinh cũng đặt mình vào tình huống của đời sống thực tế, được trải nghiệm, trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo hướng suy nghĩ của mình, vừa thông qua làm việc cá nhân, vừa phải theo nhóm, từ đó thu được những kiến thức mới, phát huy tiềm năng sáng tạo. Và một điều rất quan trọng nữa là các em sẽ thấy rõ trách nhiệm của mình đối với lớp học, giờ học, từ đó sẽ có ý thức học tập tốt hơn.

Học tập hợp tác là một cách thức học tập trong đó HS cùng làm việc trong những nhóm nhỏ gồm nhiều HS khác nhau và các nhóm được xây dựng một cách cẩn trọng.

Một trong những phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động và hợp tác là phương pháp "Bàn tay nặn bột" (PP BTNB).

1. Tiến trình dạy học theo PP BTNB:

Tiến trình dạy học theo PP BTNB được tiến hành qua 5 bước. Tuy nhiên, tùy theo chủ đề nghiên cứu, điều kiện thực tế, GV có thể sử dụng linh hoạt, sáng tạo giữa các bước giúp HS tự khám phá, lĩnh hội kiến thức khoa học chính xác, bền vững. 

Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề

- Tình huống xuất phát hay tình huống nêu vấn đề: là một tình huống do GV chủ động đưa ra như là một cách dẫn nhập vào bài học. Tình huống xuất phát phải ngắn gọn, gần gũi, dễ hiểu đối với HS. Tình huống xuất phát nhằm lồng ghép câu hỏi nêu vấn đề.

- Câu hỏi nêu vấn đề: là câu hỏi lớn của bài học (hay module kiến thức mà HS sẽ được học). Câu hỏi nêu vấn đề cần đảm bảo yêu cầu:

+ Phù hợp với trình độ, gây mâu thuẫn nhận thức và kích thích tính tò mò, thích tìm tòi, nghiên cứu của HS nhằm chuẩn bị tâm thế cho HS trước khi khám phá, lĩnh hội kiến thức.  Phải là câu hỏi mở, tuyệt đối không được dùng câu hỏi đóng (trả lời có hoặc không).

Bước 2: Hình thành câu hỏi của HS hay bộc lộ quan niệm (biểu tượng) ban đầu

Để làm bộc lộ quan niệm ban đầu của HS, GV có thể yêu cầu HS nhắc lại kiến thức cũ đã học có liên quan đến kiến thức mới của bài học. Khi yêu cầu HS trình bày quan niệm ban đầu, GV có thể yêu cầu bằng nhiều hình thức biểu hiện của HS như có thể là bằng lời nói (thông qua phát biểu cá nhân), bằng cách viết hay vẽ để biểu hiện suy nghĩ. Từ những quan niệm ban đầu của HS, GV giúp HS đề xuất các câu hỏi. Chú ý xoáy sâu vào những quan niệm liên quan đến kiến thức trọng tâm của bài học (hay module kiến thức).

GV cần khéo léo chọn lựa một số quan niệm ban đầu khác biệt trong lớp để giúp HS so sánh, từ đó giúp HS đặt câu hỏi liên quan đến nội dung bài học. Đây là một bước khá khó khăn vì GV cần phải chọn lựa các quan niệm ban đầu tiêu biểu trong số hàng chục quan niệm của HS một cách nhanh chóng theo mục đích dạy học, đồng thời linh hoạt điều khiển sự thảo luận của HS nhằm giúp HS đề xuất các câu hỏi từ những sự khác biệt đó theo ý đồ dạy học. Việc chọn lựa các quan niệm ban đầu không tốt sẽ dẫn đến việc so sánh và đề xuất câu hỏi của HS gặp khó khăn.

Bước 3: Xây dựng giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm(TN)

Từ các câu hỏi được đề xuất, GV đề nghị các em đề xuất các giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu để kiểm chứng các giả thuyết nhằm tìm câu trả lời cho các câu hỏi đó. Các phương án thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu ở đây là các phương án để tìm ra câu trả lời như quan sát, thực hành TN, nghiên cứu tài liệu…

Tùy theo kiến thức hay vấn đề đặt ra mà HS có thể đề xuất các phương án thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu khác nhau. Trường hợp HS đưa ra ngay phương án đúng nhưng vẫn còn nhiều phương án khác khả thi thì GV nên tiếp tục hỏi các HS khác để làm phong phú các phương án tìm câu trả lời. GV có thể nhận xét trực tiếp nhưng yêu cầu các HS khác cho ý kiến về PP mà HS đó nêu ra thì tốt hơn. PP BTNB khuyến khích HS tự đánh giá ý kiến của nhau hơn là của GV nhận xét.

Sau khi HS đề xuất được phương án thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu, GV nêu nhận xét chung và quyết định tiến hành phương án với các dụng cụ đã chuẩn bị sẵn.

Bước 4: Tiến hành thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu

Từ các phương án thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu mà HS nêu ra, GV khéo léo nhận xét và lựa chọn dụng cụ TN hay các thiết bị dạy học thích hợp để HS tiến hành nghiên cứu. Nếu phải làm TN thì ưu tiên thực hiện TN trực tiếp trên vật thật. Một số trường hợp không thể tiến hành TN trên vật thật có thể làm trên mô hình, hoặc cho HS quan sát tranh vẽ. Đối với PP quan sát, GV cho HS quan sát vật thật trước, sau đó mới cho HS quan sát tranh vẽ khoa học hay mô hình phóng to những đặc điểm không thể quan sát rõ trên vật thật.

Bước 5: Kết luận và hệ thống hóa kiến thức

GV có nhiệm vụ tóm tắt, kết luận và hệ thống lại để HS ghi vào vở coi như là kiến thức của bài học. Trước khi kết luận chung, GV nên yêu cầu một vài ý kiến của HS cho kết luận sau khi thực nghiệm. GV khắc sâu kiến thức cho HS bằng cách cho HS nhìn lại, đối chiếu lại với các quan niệm ban đầu. Như vậy từ những quan niệm ban đầu sai lệch, sau quá trình thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu, chính HS tự phát hiện ra mình sai hay đúng mà không phải do GV nhận xét một cách áp đặt. Chính HS tự phát hiện những sai lệch trong nhận thức và tự sửa chữa, thay đổi một cách chủ động. Điều này sẽ giúp HS ghi nhớ lâu hơn, khắc sâu kiến thức.

2. Một số lưu ý trong dạy học theo PP BTNB:

+ Tổ chức lớp học:

     - Để tiện lợi cho việc tổ chức thảo luận, hoạt động nhóm thì lớp học nên được sắp xếp bàn ghế theo nhóm cố định.

   - Cần có chỗ để các vật dụng dự kiến làm thí nghiệm cho học sinh. Không nên để sẵn các vật dụng thí nghiệm lên bàn của học sinh trước khi dạy học vì có thể sẽ mất tập trung với học sinh và có thể sẽ làm lộ ý đồ dạy học của giáo viên khi giáo viên muốn học sinh tự đề xuất thí nghiệm nghiên cứu.

+ Giúp học sinh bộc lộ quan niệm ban đầu:

       Quan điểm ban đầu của học sinh thường là các quan niệm hay khái quát chung về sự vật, hiện tượng, có thể sai hoặc chưa chính xác về mặt khoa học. Giáo viên nên khuyến khích học sinh trình bày ý kiến của mình; giáo viên phải biết chấp nhận và tôn trọng những quan điểm sai của học sinh, không nên có nhận xét đúng - sai sau khi học sinh trình bày. Biểu tượng ban đầu càng đa dạng, phong phú, càng sai lệch với ý kiến đúng thì tiết học càng sôi nổi, thú vị, gây hứng thú cho học sinh. Do đó, ý đồ dạy học của giáo viên càng dễ thực hiện được.         

+ Kỹ thuật tổ chức hoạt động thảo luận cho học sinh:

Thảo luận trong phương pháp BTNB được thực hiện bằng sự tương tác giữa các học sinh với nhau, có nghĩa là phần trả lời của học sinh sau bổ sung cho học sinh trước, hoặc đặt câu hỏi đối với ý kiến trước; hoặc trình bày một quan điểm mới; hoặc đưa ra tranh cãi ý kiến của nhóm mình.         

        Như vậy, điều quan trọng là giáo viên hướng dẫn cho học sinh thảo luận, giúp các em tìm thấy sự thống nhất ý kiến và khuyến khích học sinh thảo luận tích cực.

+ Kỹ thuật tổ chức hoạt động nhóm trong phương pháp BTNB:

            Mỗi nhóm không được quá nhiều học sinh, nhóm làm việc lý tưởng là từ 4 đến 6 học sinh. + Kỹ thuật đặt câu hỏi của giáo viên:

         - Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học hay môđun kiến thức. Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi đặc biệt nhằm định hướng học sinh theo chủ đề của bài học nhưng cũng đủ "mở" để kích thích sự tự vấn của học sinh. Chất lượng của câu hỏi nêu vấn đề sẽ ảnh hưởng rất lớn đến ý đồ dạy học ở các bước tiếp theo của tiến trình phương pháp và sự thành công của bài học.

        - Câu hỏi gợi ý là các câu hỏi được đặt ra trong quá trình làm việc của học sinh. Câu hỏi gợi ý có thể là câu hỏi "ít mở" hơn hoặc là dạng câu hỏi "đóng". Vai trò của nó nhằm gợi ý, định hướng cho học sinh rõ hơn hoặc kích thích một suy nghĩ mới của học sinh. Giáo viên đặt các câu hỏi gợi ý tùy thuộc vào tình huống xảy ra trong lớp học, xuất phát từ hoạt động học của học sinh (làm thí nghiệm, thảo luận…).

+ Rèn luyện ngôn ngữ cho học sinh thông qua dạy học theo phương pháp BTNB

Phương pháp BTNB đề nghị dành một thời gian để ghi chép cá nhân, để thảo luận xây dựng tập thể những câu thuật lại các kiến thức đã được trao đổi và học cách thức sử dụng các cách thức viết khác nhau.

+ Kĩ thuật chọn ý tưởng, nhóm ý tưởng của học sinh:

      Trong các tiết học theo phương pháp BTNB, giáo viên cần nhanh chóng nắm bắt ý kiến phát biểu của từng học sinh và phân loại các ý tưởng đó để thực hiện ý đồ dạy học. Ý kiến phát biểu của học sinh rất đa dạng, đặc biệt là đối với các kiến thức phức tạp. Ý kiến của học sinh càng khác biệt, có ý kiến sai lệch so với kiến thức đúng thì tiết học càng sôi nổi và giáo viên cũng dễ điều khiển tiết học hơn. Nắm bắt nhanh ý tưởng và phân loại ý tưởng để từ đó điều khiển lớp học đi đúng ý đồ dạy học đóng vai trò quan trọng trong sự thành công về mặt sư phạm của giáo viên.

+ Hướng dẫn học sinh đề xuất thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu hay phương án tìm câu trả lời:

            Bước đề xuất thí nghiệm nghiên cứu hay các giải pháp tìm câu trả lời của học sinh cũng là một bước khá phức tạp, cần chú ý mấy điểm sau:

            - Đối với ý kiến hay vấn đề đặt ra đơn giản, ít phương án hay thí nghiệm chứng minh thì giáo viên có thể cho học sinh trả lời trực tiếp phương án đề xuất.

            - Phương án tìm câu trả lời hay thí nghiệm kiểm chứng đều xuất phát từ những sự khác biệt của các ý tưởng ban đầu (quan niệm ban đầu) của học sinh, vì vậy giáo viên nên xoáy sâu vào các điểm khác biệt gây tranh cãi đó để giúp học sinh tự đặt câu hỏi thắc mắc và thôi thúc học sinh đề xuất các phương án để tìm ra câu trả lời.

            - Khi học sinh đề xuất phương án tìm câu trả lời, giáo viên không nên nhận xét phương án đó đúng hay sai mà chỉ nên hỏi ý kiến các học sinh khác nhận xét, phân tích. Nếu các học sinh khác không trả lời được thì giáo viên gợi ý những mâu thuẫn mà phương án đó không đưa ra câu trả lời được nhằm gợi ý để học sinh tự rút ra nhận xét và loại bỏ phương án; thảo luận và lựa chọn phương án khác tối ưu.

+ Hướng dẫn học sinh sử dụng vở thí nghiệm:

         Nội dung ghi chép trong vở thí nghiệm là các ý kiến, quan niệm ban đầu trước khi học kiến thức, các dự kiến, đề xuất, có thể là các sơ đồ, tiến trình thí nghiệm đề xuất của học sinh khi làm việc với nhóm, hoặc có thể là các câu hỏi cá nhân mà học sinh đưa ra trong khi học. Học sinh có thể ghi chép bằng lời, hình vẽ hay sơ đồ, bảng biểu. Vở thí nghiệm chứa đựng các phần ghi chú cá nhân, phần ghi chú tổng kết của nhóm (học sinh viết lại phần thống nhất thảo luận trong nhóm) hoặc phần ghi chú tổng kết thảo luận của cả lớp (kết luận về kiến thức) được xây dựng bởi trí tuệ tập thể. Ngoài việc hướng dẫn trình bày, giáo viên cố gắng hướng dẫn học sinh sử dụng phần ghi chép trong vở thí nghiệm như một công cụ hữu ích để so sánh kết quả, ý tưởng với các học sinh khác, theo dõi kết quả của cá nhân, tìm thấy những lý lẽ để giải thích cho thí nghiệm của mình…

+ Hướng dẫn học sinh phân tích thông tin, hiện tượng quan sát khi nghiên cứu để đưa ra kết luận:

          Khi làm thí nghiệm hay quan sát hoặc nghiên cứu tài liệu để tìm ra câu trả lời, giáo viên cần hướng dẫn học sinh biết chú ý đến các thông tin chính để rút ra kết luận tương ứng với câu hỏi. Giáo viên cần chú ý mấy điểm sau:

          - Lệnh thực hiện phải rõ ràng, gắn gọn, dễ hiểu để giúp học sinh nhớ, hiểu và làm theo đúng hướng dẫn.

          - Đối với các thí nghiệm cần quan sát một số hiện tượng trong thí nghiệm để rút ra kêt luận, giáo viên nên lưu ý cho học sinh chú ý vào các hiện tượng hay phần thí nghiệm đó để lấy thông tin, nhắc nhở học sinh bám vào mục đích của thí nghiệm để làm gì, trả lời cho câu hỏi nào…

          - Đối với các thí nghiệm cần đo đạc, lấy số liệu, giáo viên yêu cầu học sinh ghi chép lại các số liệu để từ đó rút ra nhận xét.

+ So sánh, đối chiếu kết quả thu nhận được với kiến thức khoa học:

            Trong hoạt động học của học sinh theo phương pháp BTNB, học sinh khám phá các sự vật, hiện tượng trong thế giới tự nhiên, đưa ra dự đoán, thực hiện thí nghiệm, thảo luận với nhau và đưa ra kết luận như công việc của các nhà khoa học thực thụ để xây dựng kiến thức. Nhưng các kiến thức của học sinh không phải là các kiến thức khoa học mới với nhân loại mà chỉ là mới với vốn kiến thức của học sinh. Các kiến thức này cũng được trình bày ở nhiều sách, tài liệu khoa học khác ngoài sách giáo khoa. Do vậy, giáo viên cũng nên giới thiệu thêm sách, tài liệu… mà học sinh có thể có điều kiện tiếp cận được để giúp các em hiểu sâu hơn. Tất nhiên, giáo viên phải biết lựa chọn tài liệu đơn giản, dễ hiểu, phù hợp cho học sinh tham khảo.    

+ Đánh giá học sinh trong dạy học theo phương pháp BTNB

      - Đánh giá học sinh qua quá trình thảo luận, trình bày, phát biểu ý kiến tại lớp học

      - Đánh giá học sinh trong quá trình làm thí nghiệm

      - Đánh giá học sinh thông qua sự tiến bộ nhận thức của học sinh trong vở thí nghiệm.

3. Một số ví dụ về sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong dạy học môn Hóa học THCS:

3.1: Ví dụ 1: Bài "Chất" – Mục III. Chất tinh khiết – Hóa học 8:

+ Tình huống xuất phát:

GV cho HS quan sát và đọc các thông tin trên chai nước khoáng, ống nước cất và cốc nước máy (nước sinh hoạt hàng ngày). GV đặt câu hỏi

-Theo em đâu là chất tinh khiết, đâu là hỗn hợp? Nước sinh hoạt hàng ngày là chất tinh khiết hay hỗn hợp? Vì sao?

+ Nêu ý kiến ban đầu của HS:

GV yêu cầu HS mô tả bằng lời những hiểu biết ban đầu của mình vào vở thí nghiệm về chất tinh khiết, hỗn hợp.

-GV: yêu cầu HS trình bày quan điểm của các em về vấn đề trên (GV cho HS làm việc theo nhóm)

-HS: có thể nêu ra các ý kiến khác nhau về chất tinh khiết và hỗn hợp như: nước khoáng là hỗn hợp nước có hòa tan các chất khoáng rắn, nước sinh hoạt hằng ngày là hỗn hợp do có hòa tan một số chất vi lượng như Fe, Mg, Ca, bụi bẩn, …

+  Đề xuất các câu hỏi:

Từ những ý kiến ban đầu của HS do các nhóm đề xuất, GV tập hợp thành các nhóm biểu tượng ban đầu rồi hướng dẫn HS so sánh sự giống nhau và khác nhau của các ý kiến trên, sau đó giúp các em đề xuất các câu hỏi liên quan đến nội dung kiến thức tìm hiểu về chất tinh khiết và hỗn hợp.

HS: Dưới sự hướng dẫn của GV, có thể nêu ra các câu hỏi liên quan như:

          - Tại sao không dùng nước cất để uống mà lại uống nước khoáng ? Hay nước cất và nước khoáng thì uống nước nào tốt hơn?

- Nước muối, nước đường có thành phần chính là những chất nào?

          - Tạo ra hỗn hợp bằng cách nào?

          - Làm thế nào để có nước đường, nước muối ?

          + Làm thế nào để tách riêng từng chất ra khỏi hỗn hợp?

GV: tập hợp các câu hỏi của các nhóm (chỉnh sửa và nhóm các câu hỏi phù hợp với nội dung tìm hiểu về chất tinh khiết và hỗn hợp, tách riêng từng chất ra khỏi hỗn hợp).

+ Đề xuất các thí nghiệm nghiên cứu:

-  Đề xuất thí nghiệm

GV tổ chức cho HS thảo luận, đề xuất thí nghiệm nghiên cứu để tìm hiểu các kiến thức vềchất tinh khiết và hỗn hợp, tách riêng từng chất ra khỏi hỗn hợp, HS có thể đề xuất nhiều cách khác nhau, GV nên chọn cách thí nghiệm, quan sát và nghiên cứu tài liệu như sau:

 GV đưa cho mỗi nhóm HS các chất: muối ăn, đường, bột (bột gạo), cát, nước.

 GV yêu cầu mỗi nhóm tạo ra được ít nhất 5 hỗn hợp từ các chất trên.

GV yêu cầu mỗi nhóm đề xuất cách tách các chất từ một hỗn hợp (trong 5 hỗn hợp mình vừa tạo ra)

- Tiến hành thí nghiệm

GV cung cấp đồ dùng thí nghiệm, yêu cầu HS nghiên cứu tiến hành thí nghiệm để đạt được mục đích nghiên cứu có nghĩa là tìm được câu trả lời cho câu hỏi. (GV không mô tả trước cách tiến hành thí nghiệm cho HS làm theo).

GV lưu ý HS quan sát khi tạo ra hỗn hợp (trạng thái của chất, có tan trong nước không, dung dịch trong suốt hay vẩn đục hay tạo cặn).

Khi HS tiến hành thí nghiệm GV bao quát lớp, đi tới các nhóm để hướng dẫn thêm, điều chỉnh các sai lầm, giúp đỡ HS (nếu cần thiết).

GV nên nhắc nhở động viên HS làm thí nghiệm độc lập, không copy làm theo ý tưởng của nhóm khác, nếu hỗn hợp này không tách thành các chất nguyên chất được HS tìm hiểu nguyên nhân tại sao? HS tiến hành tách hỗn hợp khác.

CHÚ Ý:

 . Trước khi tiến hành thí nghiệm nghiên cứu, GV yêu cầu HS viết dự đoán vào vở thí nghiệm theo các mục: Câu hỏi, Dự đoán, Cách tiến hành thí nghiệm, hiện tượng quan sát được, kết luận rút ra.

. HS tiến hành thí nghiệm và nghiên cứu tài liệu theo nhóm để tìm câu trả lời và điền thông tin vào các mục còn lại trong vở thí nghiệm.

+ Kết luận, kiến thức mới:

-GV tổ chức cho các nhóm HS báo cáo kết quả sau khi đã tiến hành thí nghiệm và nghiên cứu tài liệu.

-GV hướng dẫn cho HS so sánh lại với các suy nghĩ ban đầu của mình ở phần 2 để khắc sâu kiến thức.

- Khi HS tiến hành thí nghiệm xong, GV yêu cầu các nhóm thảo luận (GV nên chọn các nhóm có nhiều sai lầm nên trình bày trước để các nhóm khác bổ sung và hoàn thiện). GV nên ghi ra một góc riêng của bảng các hỗn hợp mà các nhóm đề xuất (có tối đa 15 hỗn hợp, các nhóm có thể đề xuất giống nhau hoặc khác nhau, tùy đối tượng HS mà GV lựa chọn giới thiệu hết hay không hết các hỗn hợp nhưng cố gắng giới thiệu các loại hỗn hợp: rắn, lỏng, hỗn hợp gồm 2 chất và gồm nhiều chất).

- Khi thảo luận GV cố gắng hướng cho HS dẫn đến kiến thức trọng tâm của bài và đi tới kết luận về chất tinh khiết, hỗn hợp và cách tách riêng từng chất ra khỏi hỗn hợp.

3.2: Ví dụ 2: Bài "Tính chất hóa học của axit" – Mục I. Tính chất hóa học – Hóa học 9:

 + Tình huống xuất phát:GV nêu câu hỏi

- Các em đã biết về thành phần, tên gọi axit, công thức axit , một vài axit cụ thể ở các bài ở lớp 8 và lớp 9.

-  Axit có những tính chất hóa học nào ?

+ Nêu ý kiến ban đầu của HS:

HS suy nghĩ cá nhân, thảo luận nhóm nêu một số tính chất hóa học đã biết của axit.

Đại diện nhóm HS báo cáo kết quả, nhận xét, hoàn thiện. GV nhận xét và tóm tắt lại các tính chất của axit mà HS đã nêu được.

HS có thể nêu được như sau :

- Axit tác dụng với kim loại

-  Dung dịch axit làm đổi màu chất chỉ thị

- Axit tác dụng với oxit bazơ

- Axit tác dụng với bazo

- Axit tác dụng với muối

...

+ Đề xuất các câu hỏi:

GV dẫn dắt để HS suy nghĩ, thảo luận trong nhóm bàn và đề xuất các câu hỏi tìm hiểu về tính chất hóa học của axit.

HS tự do nêu các câu hỏi. Đại diện nhóm HS báo cáo kết quả, nhận xét, tổng hợp và nêu ra các câu hỏi chung. GV nhận xét và cho ý kiến về các câu hỏi đã đề xuất.

Các câu hỏi có thể như sau:

Câu 1: Các axit đều làm quỳ tím hóa đỏ như nhau không?

Câu 2: Các axit  có phản ứng với bazo tương tự với oxit bazo tạo thành muối và nước không?

Câu 3: Các axit phản ứng với tất cả kim loại không? đều giải phóng khí hiđro không màu hay không?

Câu 4: Axit có thể phản ứng với muối không?

Từ các câu hỏi trên, GV có thể hướng dẫn để HS có thể đề xuất các câu hỏi cụ thể hơn. GV tập hợp các câu hỏi, yêu cầu HS nhận xét, loại bỏ các câu hỏi trùng lặp, câu hỏi chung chung để có các câu hỏi có thể nghiên cứu được.

Các câu hỏi có thể như sau:

Câu 1: Các axit đều làm quỳ tím hóa đỏ như nhau không?

Câu 2: Các axit  có phản ứng với dung dịch bazo tương tự với oxit bazo tạo thành muối và nước không?

Câu 3: Các axit phản ứng với tất cả kim loại không? đều giải phóng khí hiđro không màu hay không?

Câu 4: Các axit  có phản ứng oxit bazo tạo thành muối và nước không?

HS ghi các câu hỏi cụ thể vào vở thí nghiệm.

+ Đề xuất các thí nghiệm nghiên cứu:

- Đề xuất thí nghiệm

Trên cơ sở các câu hỏi nghiên cứu, GV dẫn dắt HS đề HS đề xuất được thí nghiệm trả lời cho từng câu hỏi.

GV yêu cầu HS làm việc cá nhân, thảo luận đưa ra ý kiến chung của mỗi nhóm. Đại diện nhóm HS báo cáo kết quả của nhóm trên bảng nhóm.

HS thảo luận, loại bỏ các  thí nghiệm trùng lặp,  thí nghiệm không có điều kiện thực hiện, hệ thống lại các thí nghiệm dễ thực hiện, an toàn, hiện tượng rõ ràng, có thể trả lời cho câu hỏi đặt ra.

GV cho ý kiến hoàn thiện, bổ sung về các thí nghiệm có thể thực hiện được.

Các thí nghiệm có thể là:

. Thí nghiệm 1: Nhỏ 2-3 giọt dung dịch axit HCl và dung dịch axit H2CO3 riêng biệt vào 2 mẩu giấy quỳ tím đặt trong 1 đĩa thủy tinh.

. Thí nghiệm 2:  Nhỏ dung dịch H2SO4 loãng vào 2 ống nghiệm riêng biệt đựng Cu(OH)2 và NaOH, lắc nhẹ cho đến khi tan hết.

. Thí nghiệm 3:  Cho 1 đinh sắt, cho 1 đoạn dây đồng vào 2 ống nghiệm riêng biệt đựng dung dịch HCl. Thực hiện tương tự với dung dịch HNO3 .

. Thí nghiệm 4: Cho dung dịch axit HCl vào ống nghiệm đựng dung dịch muối canxi cacbonat, dung dịch bạc nitrat, dung dịch đồng (II) sunfat.

          HS ghi các thí nghiệm vào vở thí nghiệm.

- Tiến hành thí nghiệm

GV yêu cầu HS tiến hành thí nghiệm theo nhóm. Mỗi lớp có thể chia thành 5- 6 nhóm để nghiên cứu thí nghiệm.

HS thảo luận về cách tiến hành thí nghiệm, phân công trong nhóm thực hiện các nhiệm vụ: Tiến hành thí nghiệm, quan sát mô tả hiện tượng, giải thích hiện tượng và kết luận kiến thức mới.

Trước khi tiến hành mỗi thí nghiệm, HS dự đoán có phản ứng hay không? Có thể có hiện tượng gì?

HS phát biểu dự đoán bằng lời, thảo luận thống nhất và ghi vào vở thí nghiệm.

Các dự đoán có thể là:

- Các axit HCl, H2CO3 đều làm đổi màu quỳ tím thành màu đỏ như nhau.

- Axit H2SO4phản ứng với  NaOH nhưng không phản ứng với Cu(OH)2 tạo thành muối và nước.

- Axit HCl, HNO3 đều phản ứng với các kim loại Fe, Cu giải phóng khí hiđro.

- Axit HCl đều có thể tác dụng với các muối.

Nhóm trưởng tổ chức cho nhóm tiến hành các hoạt động và ghi kết quả.

Thảo luận thống nhất về hiện tượng, giải thích, phương trình hóa học và ghi kết quả vào vở thí nghiệm.

+ Kết luận, kiến thức mới:

GV yêu cầu HS thảo luận, rút ra kết luận, kiến thức mới từ mỗi kết quả thí nghiệm.

Đồng thời HS so sánh kết quả với dự đoán trước đó với mỗi câu hỏi.

HS tham khảo nội dung SGK, kết hợp với kết quả thí nghiệm, kết luận từng tính chất và rút ra kết luận chung về tính chất hóa học của axit.

HS so sánh tính chất axit đã tìm được sau thí nghiệm với ý kiến ban đầu đã nêu ra ở mục 2 và cho thấy điểm mới phát hiện được về tính chất hóa học của axit.

GV yêu cầu HS ghi tính chất của axit, viết phương trình hóa học minh họa, chú ý điều kiện phản ứng và mức độ ( tất cả, một số, nhiều axit...).

Thí dụ:

1.      Axit làm quỳ tím chuyển sang màu đỏ.

2.     Axit tác dụng với dung dịch bazo tạo thành muối và nước.

HCl + NaOH   NaCl + H2O

3.Axit tác dụng với nhiều kim loại tạo thành muối và giải phóng khí hiđro.

                              6HCl +2Al  2AlCl3 + 3H2.

Cu không phản ứng với dung dịch HCl/ H2SO4 loãng.

4. Axit tác dụng với oxit bazo tạo thành muối và nước.

2HCl + CaO   CaCl2 + H2O

GV yêu cầu đại diện nhóm trình bày kết quả, nhận xét, bổ sung và hoàn thiện.

 GV cho nhận xét, hoàn thiện.

4. Kết luận:

          Học tập theo phương pháp Bàn tay nặn bột học sinh sẽ phát huy được tính tích cực, chủ động và hợp tác. Học sinh tiếp cận vấn đề đặt ra qua tình huống (câu hỏi lớn của bài học); nêu các giả thuyết, các nhận định ban đầu của mình, đề xuất và tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu; đối chiếu các nhận định (giả thuyết đặt ra ban đầu); đối chiếu cách làm thí nghiệm và kết quả với các nhóm khác; nếu không phù hợp học sinh phải quay lại điểm xuất phát, tiến hành lại các thí nghiệm như đề xuất của các nhóm khác để kiểm chứng; rút ra kết luận và giải thích cho vấn đề đặt ra ban đầu. Trong quá trình này, học sinh luôn luôn phải động não, trao đổi với các học sinh khác trong nhóm, trong lớp, hoạt động tích cực để tìm ra kiến thức.

 

------ Hết ------

 
Cuộc thi vẽ tranh phòng chống thuốc lá
Thứ tư, 26 Tháng 12 2012 07:15

 

Hưởng ứng cuộc thi sáng tác tranh cổ động phòng chống tác hại của thuốc lá do Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Trung tâm truyền thông sức khỏe (Sở Y tế) tổ chức, trường THPT Phan Châu Trinh đã có 5 bức tranh vào vòng chung kết diễn ra tại Hội trường trường Phan Châu Trinh vào cuối tháng 11-2011.

Đọc thêm...
 
Hưởng ứng tháng ATGT, thực hiện các hoạt động về trất tự ATGT năm học 2012-2013
Thứ tư, 26 Tháng 12 2012 06:54

Ngày 24/9/2012, trong tiết chào cờ, Ban ATGT nhà trường phối hợp với Chi đoàn giáo viên tổ chức chương trình ngoại khóa hưởng ứng tháng ATGT, thực hiện các hoạt động về trật tự ATGT năm học 2012-2013.

Đọc thêm...
 
Tài liệu hỏi – đáp về phòng, chống ma túy
Thứ tư, 26 Tháng 12 2012 06:34

Câu 1: Phạm vi điều chỉnh của Luật phòng, chống ma túy quy định những gì? Trả lời: Chương I, điều 1 Luật phòng, chống ma túy năm 2000 nêu rõ: Luật này quy định về phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh chống tệ nạn ma tuý; kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma tuý; trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống ma tuý. 

Đọc thêm...
 


HÌNH ẢNH

  • Photo Title 1
  • Photo Title 2
  • Photo Title 3
  • Photo Title 4
  • Photo Title 5

TÀI NGUYÊN

LIÊN KẾT

Bộ giáo dục và đào tạo

Sở giáo dục Thừa Thiên Huế



Bạn quên mật khẩu

CHIA SẺ TÀI NGUYÊN

(Bạn phải đăng nhập

để thực hiện tác vụ này)

THỐNG KÊ TRUY CẬP

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay87
mod_vvisit_counterHôm qua134
mod_vvisit_counterTuần này1114
mod_vvisit_counterTuần trước1165
mod_vvisit_counterTháng này5770
mod_vvisit_counterTháng trước5676
mod_vvisit_counterTất cả403650

Số người trực tuyến

Hiện có 16 khách Trực tuyến

Copyright @ 2012. Trường THPT Ngô Mây Địa chỉ: Tổ 1 - Phường Ngô Mây - Thành phố Kon Tum,

Điện thoại: 060 3856 896,  Email: thptngomay@kontum.edu.vn

Developed by LVT Pro, Phone number: 01667777219